Thăng Long thời Lê-Trịnh (1601-1802)

Thăng Long thời Lê-Trịnh (1601-1802)

Bên cạnh cung vua còn có phủ chúa Trịnh với nhiều công trình kiến trúc lộng lẫy. Đầu thế kỷ XVII, các nghề thủ công phát triển mạnh như dệt vải, dệt lụa, nhuộm thâm ở Trúc Bạch, Yên Thái, Bái ấn, Trích Sài, Nghĩa Đô, đúc đồng ở Ngũ Xã, gốm ở Bát Tràng. Các chợ rất nhiều, buôn bán phát triển. Thăng Long mang tên Kẻ chợ (chợ khổng lồ). ở Kẻ chợ đã có thương điếm Hà Lan (1645-1699) và Anh (1633-1697) đặc biệt là thuyền nhân người Hoa rất đông; dân số chợ lúc đó có thể đến một triệu người, khoảng 20 nghìn nóc nhà … đã hình thành các phố nghề như: Hàng Khay, Hàng Bạc, Hàng Trống, Hàng Đào, Bát Đàn, Hàng Đồng.

1610* Triều đình cho xây dựng đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư.

1613* Chữ quốc ngữ hình thà nh do các giáo sĩ Bồ Đà o Nha sáng tạo ra.

1624-1625* Các tướngTrịnh quân đánh Mạc ở Cao Bằng, Thái Nguyên.

1627* Linh mục Alexandre de Rhodes tới Đông Kinh để buôn bán và truyền giáo.

1630* Vỡ đê ở Yên Duyên, Khuyến Lương (Thanh Trì), nước tràn vào Thăng Long.

1631* Cháy lớn ở khu vực phủ chúa Trịnh ở Đông Kinh.

1641* Trịnh Tráng cho quân tiến sang Quảng Đông (Trung Quốc) đóng giữ Liêm Châu, Nam Ninh… nhằm dành lại những phần đất của Đại Việt đã bị mất từ thời Lý. Quân Mãn Châu can thiệp. Quân Trịnh phải rút về (lúc này người Mãn Châu đã thống trị Trung Quốc, lập nên nhà Mãn Thanh).

1655-1986* Quân Trịnh đánh nhau với quân Nguyễn ở Nghệ An, Bình Trị Thiên. Quân Trịnh thua.

1660* Trịnh-Nguyễn lại đánh nhau. Quân Nguyễn thua phải bỏ bảy huyện phía nam sông Lam.

1663* Triều đình Lê-Trịnh ra lệnh cấm người trong nước không theo đạo Gia-tô

1664* Triều đình bắt đầu đặt phép đo lường. Định kỳ hạn sửa chữa đê điều.

1673* Trịnh – Nguyễn chấm dứt chiến tranh, lấy sông Gianh làm giới hạn.

1677* Quân Trịnh đem quân đánh họ Mạc ở Cao Bằng. Đây là trận Trịnh – Mạc cuối cùng, nhà Mạc hoàn toàn chấm dứt sau tám mươi lăm năm chiếm cứ Cao Bằng.

1679* Triều đình Lê – Trịnh định công, Khao thưởng những người đánh Mạc.

1680* Chúa Trịnh cho sửa chữa lại Trấn Vũ Quán (đền Trấn Quốc hiện nay) đúc tượng Trấn Vũ cao ba thước hai nặng sáu nnghìn cân ta.

1687* Triều đình Lê – Trịnh ra lệnh cấm người nước ngoài không được trú ngự ở Thăng Long.

1696* Triều đình bắt Hoa Kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nói tiếng Việt và phải theo phong tục Việt.

1697* Anh đóng thương quán ở kẻ chợ (Thăng Long).

1699* Ra lệnh cấm dân theo đạo Gia tô và trục xuất các giáo sĩ phương Tây.

1700* Thi hội ở Thăng Long, lấy đỡ tiến sĩ mười chín người.

1708* Đắp lại những khúc đê sông Hồng bị sụt lỡ.

1712-1713* Đại hạn ở Đàng Ngoài. Nạn đói kéo dài. Nhiều người chết đói.

1715* Thi hội và thi đình; lấy đỗ hai mươi tiến sĩ trong đó có Nguyễn Kiều là chồng nữ văn sĩ Đoàn thị Điểm. Bà đã dịch Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn sang chữ Nôm.

1717* Nhà Trịnh quy định thể lệ, khu vực cư trú cho người nước ngoài.

1718* Ban hành lệnh cấm uống rượu.

1727* Trịnh cương cho xây dựng phủ đệ ở Cổ Bi (Gia Lâm). Bắt dân phải nộp gỗ tốt cho việc xây dựng.

1732* Triều đình Lê – Trịnh tìm mua sách cũ để khôi phục kho tàng thư.

1736* Trịnh Giang ăn chơi xa xỉ, xây dựng nhiều cung quán, chùa chiền. Nhân dân nhiều nơi phải cung đốn phục dịch rất khổ cực. Cấm mua sách của Trung Quốc.

1738* Các Tôn Thất nhà Lê là Lê Duy mật, Lê Duy Quý, Lê Duy Chúc… khởi binh đốt kinh thành, lật đỗ họ Trịnh. Kế hoạch bị bại lộ. Lê Duy Quý, Lê Duy Chúc, Lê Duy Mật chạy trốn vào Thanh Hóa.

1745* Đặng Trần Côn mất, quê làng Nhân Mục (Thanh Trì) tác phẩm chính của ông: Chinh phụ ngâm, Bích Câu kỳ ngộ.

1749* Vua Lê, Chúa trịnh đã khởi công một cuộc sửa đắp lớn cho thành Đại La, mở tám cửa thành ra ngoài (một trong những cửa ấy là cửa Thanh Hà tức cửa Ô Quan chưởng – Phố hàng Chiếu ngày nay).

1753* Để ngăn chặn nạn đúc tiền giả, Trịnh Doanh đình chỉ hoạt động của xưởng đúc tiền ở các tỉnh, giao việc này cho hai xưởng Nhật Chiêu và cầu Dền ở Thăng Long.

1762* Mở khoa thi viết chữ và thi toán, có chín trăm bảy mươi người đỗ môn thi viết và một trăm hai mươi người đỗ môn toán. Sửa chữa Quốc Tử Giám.

1766* Năm sinh của đại thi hào Nguyễn Du.

1770* Lê hữu Trác, quê Hưng Yên lên Thăng Long. Ông là một nhà nho xuất sắc, một danh y đương thời. Tác phẩm lớn của ông: Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

Khu dân cư của kinh thành Thăng Long lúc đó thuộc hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức (mỗi huyện 18 phường, hai huyện, ba mươi sáu phường).

1771* Chúa Trịnh cấm không được bán các loại gỗ tứ thiết cho thương nhân Trung Quốc. Cấm thương nhân Trung Quốc chở trộm thóc gạo về nước.

1775* Ngô Thị Nhậm đỗ tiến sĩ. Ông là phụ tá đắc lực cho Nguyễn Huệ cả trên lĩnh vực chính trị, quân sự lẫn ngoại giao.

1779* Khoa thi cuối cùng tại Thăng Long.

1786* Sau khi đánh xong Phú Xuân, Nguyễn Huệ tiến ra Đàng Ngoà i, giương cao lá cờ “Phù Lê Diệt trịnh”. Ngày 26/5 âm lịch: Nghĩa quân Tây Sơn vào Thăng Long. Trịnh Khải bỏ chạy. Tháng bảy âm lịch Nguyễn Huệ yết kiến Lê Hiến Tông ở điện Kính Thiên.

Nguyễn Huệ lấy công chúa Ngọc Hân, con gái vua Lê Hiến Tông. Tháng 8 âm lịch, Nguyễn Huệ rút quân về Nam, giao quyền cho Nguyễn Hữu Chỉnh. Lê Hiến Tông đã cùng với Nguyễn Hữu Chỉnh sai người đốt trụi phủ chúa. Phủ chúa ở giữa trung tâm kẻ chợ bao gồm 52 cung điện lớn, đền hướng về phía hồ Hoàn Kiếm. Đám cháy đã lan ra khắp kinh thành, thiêu hủy 2/3 thành phố.

1787* Nguyễn Huệ Phái Ngô Văn Sở, Phạm Văn Lân hợp binh với Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh kiêu căng, lộng quyền.

1788* Giết được Nguễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm cũng lại lộng hành,mưu chống lại Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc, giết Nhậm, đưa Ngô Văn Sở lên thay. Sau đó Nguyễn Huệ lại và o Phú Xuân. Trong khi ấy, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu triều đình nhà Thanh. Tháng 10 âm lịch: hai mươi chín vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghi chỉ huy, kéo vào xâm lược nước ta. Và đến ngày 17-12 dương lịch thì kéo và o Thăng Long.

Ngày 22-12-1788 (25-11 âm lịch) Nguyễn Huệ ra lệnh xuất quân. Ngày 25-1-1789 (30 tháng chạp Mậu Thân) quân Tây Sơn đã đến Ninh Bình và ba ngày sau đó đã tiến sát đến Hạ Hồi và mờ sáng ngày mồng 5 âm lịch, quân Tây Sơn đã phá tan đền Ngọc Hồi sau đó tiến về Khương Thượng, Đống Đa. Tôn Sĩ Nghị chạy trốn, quân Thanh hoảng hốt chạy qua cầu phao sông Hồng, cầu gãy bị chết đuối rất nhiều.

Tướng Thanh nghe đồn quân Tây Sơn sẽ vợt biên giới sang Quảng Tây vội vàng xin đề nghị hòa giải hai nước.

Nắm chắc việc hòa giải sẽ tiến triển tốt, Quang Trung-Nguyễn Huệ đem quân về Phú Xuân giao việc bang giao cho Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân coi việc quân sự.

Quang Trung ban chiếu “Lập học” lần đầu tiên trong lịch sử, trường học mở xuống tận xã. Nhân dân được mượn đền chùa làm trường học.

1790* Phạm Công Trị giả danh làm Quang Trung cùng với Ngô Văn sở, Phan Huy ích, Vũ Huy tấn sang Trung Quốc. Vua Càn Long nhà Thanh đón tiếp sứ đoàn ta rất long trọng.

1792* Ngày 29 tháng 7 âm lịch: vua Quang Trung mất, Lê Ngọc Hanh làm bài văn Nôm:”Ai Tư vãn” khóc vua QuangTrung.

1793-1800* Nguyễn Ánh tấn công quân Tây Sơn.

1801* Quân Nguyễn hạ thành Phú Xuân. Nguyễn Quang Toản (con Nguyễn Huệ) rút quân ra Bắc.

1802* Tháng 5 âm lịch, nguyễn Ánh lên nôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long. Kinh đô là Phú Xuân (Huế). Tháng 6 âm lịch: quân Nguyễn hạ thành Thăng Long, Nguyễn Quang Toản và các tướng Tây Sơn chạy lên Kinh Bắc và bị bắt, rồi bi giết chết để trả thù.

Xây thêm Khuê Văn Các và Văn Miếu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: