Thăng Long thời Lý (1010-1225)

Thăng Long thời Lý (1010-1225)
1010* Tháng 2 Âm lịch, nhà vua Lý Công uẩn từ kinh đô Hoa Lư về thăm quê ở Cổ Pháp (Đình Bảng), bên tả ngạn sông Hồng. Ông đã ghé thăm thành Đại La (tức là vùng Hà Nội sau này) bên hữu ngạn sông Hồng.
Tháng 7 âm lịch- Lý Công uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên là Thăng Long (cái tên kinh đô Thăng Long bắt đầu từ đó cho đến thời Minh Mạng 1831 đổi thành Hà Nội).
Trong lời dụ dời đô của nhà vua có đoạn viết: “Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông, sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ, thấp trũng tối tăm muôn vật hết sức tươI tốt, phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Xây dựng kinh đô Thăng Long: điện Càn Nguyên làm nơi coi chầu, hai bên có điện Tập Hiền cho các quan văn hội họp, quan võ bàn luận binh thư ở điện Giảng Võ.
Thành Thăng Long thời bấy giờ gồm ba vòng. Vòng trong là Cấm Thành dành cho Hoàng tộc. Rồi đến Hoàng Thành dành cho quan lại. Vòng ngoài gọi là Kinh Thành là khu dân cư, phía Đông giáp với sông Hồng. Bắc và Tây bắc là Hồ Tây, Tô Lịch, vòng xuống phía nam là Kim Ngưu. Hồ Tây thời đó thông với sông Tô Lịch và Hồ Lục Thủy (Hoàn Kiếm).
Cư dân Thăng Long gồm Hoàng gia, quan lại, sư sãi, nô tì, nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Ngoài một số gốc gác Thăng Long, còn hầu hết là từ bốn phương tụ họp lại. Dân số ước khoảng hai, ba vạn. Các nghề thủ công thờI đó đã khá phát triển gồm: dệt, nhuộm, gốm sứ, giấy, mỹ nghệ, đúc đồng, nề, mộc…
Xóa thuế ba năm cho cả nước
Xứ Tống sang phong Lý Công uẩn làm Giao Chỉ Quận vương.
1017* Nhà vua xuống chiếu xá tô ruộng cho cả nước.
Động đất. Điện Càn Nguyên sụp đổ.
1018* Triều đình phái sứ sang nhà Tống xin kinh Tam Tạng
1028* (Tháng 3 âm lịch 31/3/1028) Lý Công uẩn mất, thọ 54 tuổi, Thái tử Phật Mã lên ngôi tức Lý Thái Tông.
Hội thề ở miếu Đồng Cổ (phường Yên Thái, Ba Đình, Hà Nội). Miếu Đồng Cổ thờ thần Trống Đồng. Hàng năm mọi bầy tôi đều thề trước thần “Làm con mà bất hiếu, làm tôi mà bất trung thì thần linh tru diệt”.
1026-1054* Nhà vua cho phép dân làng Lệ Mật (Gia Lâm) sang khai thác vùng đất hoang phế phía tây kinh thành, từ đó dần dần hình thành khu Thập Tam trại gồm: Liễu Giai, Ngọc Hà, Đại Yên, Giảng Võ, Cống Vị, Vạn Phúc, Thủ Lệ, Công Yên, Hữu Tiệp, Vĩnh Phúc, Ngạc Khánh, Kim Mã, Nhân Biểu.
1043* Nhà vua xuống chiếu cấm bán hoàng nam (con trai từ 18 đến 20 tuổi) trong dân gian làm gia nô.
1049* Vua Lý Thái Tông dựng chùa Diên Hựu (Một Cột) theo hình tòa sen. Đạo Phật đã trở thàng Quốc đạo. Không phải chỉ có thường dân đi tu, làm sư mà nhiều nhà quyền quý, vua chúa cùng đi tu. Đạo Phật được tổ chức thành một hệ thống rộng lớn từ trên xuống dưới, từ triều đình đến các thôn xóm.
1052* Đặt quả khuông lớn ở sân rồng cho ai có điều gì oan ức đánh khuông để được thấu đến nhà vua.
1054* Lý Thái Tông mất, Thái tử Nhật Tôn lên ngôi tức là Lý Thánh Tông, đổi tên nước là Đại Việt.
1057* Xây tháp Báo Thiên mười hai tầng, cao khoảng tám mươi thước bên cạnh hồ Lục Thủy (Hoàn Kiếm) trong chùa Báo Thiên có một quả khuông lớn nặng hơn bảy tấn.
1067* Lào cho sứ sang Thăng Long triều cống. Sứ Tống sang phong Nhà vua làm Nam Bình vương.
1069* Chiêm Thành quấy rối biên giới phía Nam. Nhà vua giao cho Nguyên phi ỷ Lan trông coi việc nước, cùng với Lý Thường Kiệt cầm quân đi đánh giặc (ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yên Loan, một cô gái hái dâu chăn tằm làng Sủi, nay thuộc xã Dương Xá, Gia Lâm).
1070* Lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, người sáng lập ra Nho học. Tại đây hiện còn tám mươi hai bia tiến sĩ, ghi họ tên các tiến sĩ, khóa đầu được tạc vào bia là năm 1442 đến năm 1779 kết thúc. Trong số này có nhiều nhà văn hóa lỗi lạc như Lương Thế Vinh, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn, Chu Văn An…
1072* Lý Thánh Tông mất, thọ năm mươi tuổi. Thái tử Càn Đức (con ỷ Lan) nối ngôi tức Lý Nhân Tông. Lý Đạo Thành làm phụ chính.
1075* Nhà Tống chuẩn bị xâm lăng Đại Việt. Lý Thường Kiệt mang quân tấn công vào đất giặc, đánh chiếm cửa biển Châu Khâm, Châu Liêm rồi rút về. Mở khoa thi Tam trường đầu tiên ở Thăng Long, lấy được mười người đậu; thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Từ đây trở đi, chỉ những người thi đỗ mới được bổ dụng làm quan.

1076* Lập Quốc Tử Giám ở kinh đô, đây là Trường Đại học đầu tiên của nước ta để làm nơi cho con em vua quan tới học tập.

Tháng ba quân Tống vượt biên nước ta tiến đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), uy hiếp Thăng Long. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến sông Như Nguyệt đại phá quân giặc. Trên chiến trường Như Nguyệt vang lên bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, một chàng trai sinh ở Thăng Long năm 1019.

1086* Thi tuyển những người có tài văn học trong cả nước, sung vào Hà n Lâm Viện.

1101* Tu sửa lại chùa Diên Hựu.

1108* Đắp đê Cơ Xá thuộc khu vực thành Thăng Long, ngăn nước sông Hồng.

1117* Hoàng thái hậu ỷ Lan chết, làm lễ hỏa táng.

1121* (Tháng năm âm lịch) nước sông Hồng dâng cao tràn qua cửa Đại Hưng (cửa Nam Kinh thành).

1138* Lý Thần Tông mất năm hai mươi ba tuổi. Con thứ là Thiên Tộ mới ba tuổi lên ngôi, tức Lý Anh Tông. Đỗ Anh Vũ làm phụ chính.

1142* Lý Anh Tông cho xây dựng đền Hai Bà ở làng Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng hiện nay).

1155* Mở hội đua thuyền ở trên sông Hồng (tháng 8 âm lịch). Lụt và động đất.

1162* Nhà vua xuống chiếu cấm không được tự hoạn để được xung vào hầu hạ nơi cung cấm.

1164* Nhà Tống phong vua Lý Anh Tông làm “An Nam Quốc vương”. Đổi Giao Chỉ quận là “An Nam Quốc”.

1175* Lý Anh Tông mất, thái tử Long trác lên ngôi, khi ấy mới ba tuổi tức Lý Cao Tông. Tô Hiến Thành là phụ chính.

1182* Nước Xiêm (Thái Lan) cho sứ sang sêu cống.

1192* Khơi sông Tô Lịch, Tô Lịch thông với sông Hồng, cho nên hàng năm nước sông Hồng lên cao đưa phù sa và o Tô Lịch làm cho lòng sông bị cạn, phải nạo vét cho thuyền bè đi lại buôn bán trên sông rất tấp nập.

1205* Vua Lý tiếp tục cho xây nhiều cung điện, ăn chơi hoang phí. Quan lại thì tham nhũng, chuyên quyền. Dân tình cơ cực, trộm cướp tràn lan.

1210* Lý Cao Tông mất. Thái tử Lâm mười sáu tuổi lên ngôi – tức Lý Huệ Tông.

1211* Nhà vua phong Trần Thị Dung làm Nguyên phi. Phong tước hầu cho anh vợ là Trần Tự Khánh.

1216* Sắc phong Trần Thị Dung làm hoàng hậu, Trần Tự Khánh làm Thái úy phụ chính.

1223* Trần Thừa, anh rể hoàng hậu được phong làm Phụ quốc Thái uý.

1224* Em họ Trần Thừa là Trần Thủ Độ được cử làm Điện tiền chỉ huy sứ, bảo vệ Cấm thành và nắm giữ mọi quyền hành.

Lý Huệ Tông không có con trai, lập công chúa Chiêu Thánh làm Thái tử rồi truyền ngôi cho. Vua vào tu ở chùa Châu Giáo trong cấm thành. Công chúa Chiêu Thánh lên ngôi tức Lý Chiêu Hoàng (bảy tuổi).

1225* Trần Thủ Độ tổ chức cuộc hôn nhân giữa Chiêu Thánh và Trần Cảnh, tám tuổi (con của Trần Thừa).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: